
Sau khi có Hiệp định Genève, cùng với một số khu vực tập kết ngắn ngày khác, Trung ương Cục miền Nam lấy huyện An Biên và một số huyện của tỉnh Bạc Liêu làm “khu tập kết 200 ngày” theo qui định của Hiệp định. Chợ Chắc Băng được chọn làm điểm xây dựng trung tâm và xây dựng cảng tạm thời ở Vàm Chắc Băng để tiếp các phái đoàn của Liên hiệp Pháp, trao đổi tù binh và là nơi đón tiếp đồng bào thành thị và các tỉnh về thăm, tiễn đưa người thân đi tập kết. Do đó nhân dân vùng U Minh sớm được tiếp thu các nội dung của Hiệp định Genève về tình hình nhiệm vụ, phương châm, sách lược mới của Đảng ở miền Nam… làm cơ sở chuẩn bị bước vào cuộc đấu tranh với kẻ thù mới.
Đầu tháng 9-1954, tỉnh Rạch Giá được tái lập, gồm có 8 huyện là: Hồng Dân, An Biên, Gò Quao, Giồng Riềng, Long Mỹ, Tân Hiệp, Châu Thành, Phú Quốc và thị xã Rạch Giá. Tỉnh ủy bí mật cũng được chỉ định thành lập, gồm 9 đồng chí, do đồng chí Lâm Văn Thê (Ba Hương) làm bí thư Tỉnh ủy.
Tháng 10-1954, cơ quan Tỉnh ủy đóng tại Ngọn Bà Ai – Cai Giảng (xã Vĩnh Lộc, huyện Hồng Dân); sau đó dời về Xà Phiên, Lương Tâm (huyện Long Mỹ). Trong điều kiện hoạt động bí mật, cơ quan Tỉnh ủy rất gọn nhẹ; văn phòng chỉ có một vài cán bộ, đảng viên giúp việc cho Tỉnh ủy…
Đầu tháng 2-1955, khi “khu tập kết 200 ngày” hết hạn, ta giao lại vùng này cho địch. Ngay từ đầu, chính quyền Ngô Đình Diệm xác định đây là địa bàn phải tập trung đánh phá để xóa dấu ấn căn cứ cách mạng ở vùng U Minh. Chúng thành lập đặc khu An Phước, do Lâm Quang Phòng làm đặc khu trưởng kiêm quận trưởng. Chúng tập hợp số địa chủ gian ác cùng những cán bộ kháng chiến cũ bất mãn, từng bị tù tội trong kháng chiến… như Lâm Quang Quận, Phạm Dữ, Cái Văn Ngà, Quản Rớt…, khơi dậy và kích động lòng hận thù; trả thù, trả oán để đánh phá cách mạng, tiêu diệt Đảng. Có thể nói U Minh Thượng là nơi địch đánh phá phong trào cách mạng rất sớm, với nhiều hành động thâm độc, gian ác nhất ở miền Tây Nam bộ lúc bấy giờ.
Với những kinh nghiệm thực tế đã trải qua trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bước vào cuộc chiến đấu mới, trong hoàn cảnh, điều kiện hoạt động bí mật, bất hợp pháp, Tỉnh ủy xác định địa bàn trọng yếu của căn cứ Tỉnh ủy là dựa vào rừng U Minh Thượng, mà chủ yếu vẫn là dựa vào dân, “căn cứ lòng dân” là bảo đảm an toàn nhất, vững chắc nhất. Trong tình hình phức tạp và do yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo nên căn cứ của Tỉnh ủy luôn phải bám vào dân, vao những gia đình chí cốt với cách mạng, nhưng từng lúc phải di dời, lúc ở nơi này, khi nơi khác.
Tháng 3-1955, cơ quan Tỉnh ủy dời về U Minh Thượng, huyện An Biên; phân ra ở rải rác từ Kinh Làng (xã Đông Thái) qua Kinh Đạo (xã Đông Hòa) Kinh Quản Điển, Mười Quang, Nguyễn Văn Chiếm (Đông Thạnh) Kinh Ba Huôl, Hai Phát, Bà Điển, Kinh Hãng, Mũi Tàu (Đông Hưng).
Thời gian này, đồng chí Lâm Quang Thê (Ba Hương), Bí thư Tỉnh Ủy, ở Kinh Đạo, đồng chí Nguyễn Hùng Sơn, Phó bí thư Tỉnh ủy ở kinh Hãng. Cơ quan Tỉnh ủy ở các con kinh ven rừng U Minh; ăn ở, làm việc trong nhân dân, được nhân dân nuôi chứa, bảo vệ.
Sự quan hệ chỉ đạo giữa các đồng chí trong Tỉnh ủy cũng như với các huyện bằng đường giao thông công khai và theo đường dây, do các trạm của tỉnh và huyện phụ trách. Lúc này Tỉnh ủy chưa có điện đài, cơ yếu.
Do địch liên tục càn quét, tập trung đánh phá cơ sở trong vùng U Minh Thượng làm cho tình hình rất căng thẳng, Tỉnh ủy quyết định dời cơ quan về đồng bằng.
Khoảng tháng 10 – 1955, Tỉnh ủy ở địa bàn chủ yếu là các xã Hòa Hưng, Thạnh Hưng (Giồng Riềng), Vĩnh Hòa Hưng (Gò Quao), Vị Thanh (Long Mỹ); tập trung lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi địch thi hành hiệp định Genève; chỉ đạo các phong trào đấu tranh chính trị, đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ…
Năm 1956, Tỉnh ủy điều động đồng chí Nguyễn Văn Đại (Tư Đại, Ba Thìn) Tỉnh ủy viên, về làm chánh văn phòng Tỉnh ủy.
Từ cuối năm 1956, Tỉnh ủy đóng cơ quan ở Vị Thanh; tại nhà các gia đình Chín Chương, Sáu Tặc…
Từ năm 1957, đồng chí Nguyễn Tấn Minh (Mười Minh) thay đồng chí Nguyễn Văn Đại làm Chánh Văn phòng Tỉnh ủy. Cùng thời gian này, thực hiện chủ trương của cấp trên, Tỉnh ủy Rạch Giá giao huyện Long Mỹ về tỉnh Cần Thơ; chỉ giữ lại xã Vị Thanh (đang là căn cứ của Tỉnh ủy) làm 1 xã của huyện Giồng Riềng. Tháng 10 – 1957 Tỉnh ủy lại giao huyện Hồng Dân về tỉnh Sóc Trăng, giữ lại 3 xã Vĩnh Thuận, Vĩnh Phong và Vĩnh Bình, nhập vào huyện An Biên.
Cuối năm 1957, đồng chí Lâm Văn Thê, Bí thư Tỉnh ủy, từ xã Vị Thanh dời sang Thạnh Đông (huyện Tân Hiệp); ở xóm nhà các gia đình Tám Mù, Hai Nhẫn, thuộc Kinh Xã Trắc (nay là ấp Thạnh Lộc, xã Thạnh Đông), chủ yếu để tiện chỉ đạo, làm việc với Ban cán sự Di cư và Huyện ủy Tân Hiệp. Đồng chí Năm Râu làm bảo vệ cho đồng chí Lâm Văn Thê. Đồng chí Nguyễn Văn Phú (Tư Phú) là cán bộ căn cứ, phụ trách chỗ ở, hầm bí mật cho Thường trực Tỉnh ủy. Chị Nguyễn Thị Quý (vợ đồng chí Tư Phú) làm cấp dưỡng cho Thường trực Tỉnh ủy. Cơ quan Tỉnh ủy ăn ở chủ yếu vẫn là dựa vào dân.
Đầu năm 1958, cơ quan Tỉnh ủy dời về xã Thạnh Hưng (nay là ấp Thạnh Thới, xã Thạnh Lộc, huyện Giồng Riềng) đóng dài từ Kinh Chùa, lên Kinh Đôi; ở các gia đình Đoàn Thị Lầu (bà già Sáu Ròm), Bảy Sâm, Tư Trừ (Huỳnh Văn Trừ).
Đồng chí Lâm Văn Thê ở nhà gia đình Tư Trừ; có hầm bí mật trong nhà, khi có địch càn quét thì xuống hầm. Đồng chí Nguyễn Tấn Minh (Mười Minh) Chánh văn phòng Tỉnh ủy, ở tại gia đình Bảy Chà và Út Bùi (đều là em ruột Tư Trừ). Các cán bộ bộ phận khác ở các gia đình Út Bùi và Hai Rạng. Địch nghi một số gia đình nuôi chứa Tỉnh ủy như Tư Trừ; Ba Ngoan, Út Bùi nên bắt giam và tra tấn; nhưng các anh kiên trì chịu đựng, không hề khai báo, bảo vệ an toàn cho Tỉnh ủy.
Tháng 1 – 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp, đánh giá tình hình và ra Nghị quyết số 15, xác định rõ: con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân; kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để đưa phong trào cách mạng đi lên… Thời gian này địch tập trung đánh phá cách mạng rất ác liệt;
Phong trào cách mạng trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, tổn thất. Đầu năm 1959, cơ quan Tỉnh ủy chuyển dân về vùng U Minh Thượng; chọn khu vực 3 xã: Vĩnh Hòa, Vĩnh Bình và Đông Yên (An Biên) làm địa bàn xây dựng căn cứ lâu dài. Tháng 10 – 1959 cơ quan Tỉnh ủy về đóng ở Cây Bàng, Ấp Khuân (xã Vĩnh Hòa).
Cuối năm 1959, Tỉnh ủy chủ trương tấn công chi khu Kiên An (Xẻo Rô, An Biên), diệt cho được Lâm Quang Quận, quận trưởng ác ôn, thu chiến lợi phẩm, bổ sung trang bị cho lực lượng của ta. Tỉnh ủy giao nhiệm vụ này cho Tiểu đoàn Ngô Sở (đơn vị vũ trang của tỉnh, mang danh nghĩa giáo phái Hòa Hảo để dễ hoạt động).
Thực hiện quyết tâm và yêu cầu của Tỉnh ủy, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn bám sát tình hình, kiên trì chờ thời cơ diệt địch. Đưa quân mai phục đến lần thứ ba, đêm 30 – 10 – 1959, đơn vị tổ chức tấn công, diệt gọn chi khu, diệt tên Lâm Quang Quận, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, thu toàn bộ vũ khí và số tiền lương chúng mới đem về, giải thoát 113 tù nhân… Nhân dân 3 xã Đông Yên, Tây Yên và Đông Thái nổi dậy đánh trống mỏ, uy hiếp tinh thần địch, giải tán tề ấp, lực lượng Thanh niên Cộng hòa…
Trận đánh Xẻo Rô là trận tiêu diệt chi khu quân sự của địch đầu tiên ở miền Nam trong thời kỳ này; góp phần có ý nghĩa vào cao trào đồng khởi của nhân dân toàn miền Nam.













