“LỊCH SỬ NƯỚC TA” (diễn ca).

0
61

Lịch sử nước ta (diễn ca). Viết năm 1941. Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2. 1942. Năm 1941 sau khi trở về Tổ quốc, vào tháng 5. 1941 Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám của Đảng Cộng Sản Đông Dương, xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương. Tập diễn ca lịch sử này được viết để làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiên khu thời đó, và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhằm giáo dục và động viên mọi người phát huy truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, ra sức đánh đuổi Pháp Nhật. Trong tập diễn ca này, Hồ Chí Minh điểm qua các triều đại và các biến cố lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến khởi nghĩa Bắc Sơn và Đô Lương. Sau đó, Hồ Chí Minh phân tích tình hình thế giới cũng như tình hình Việt Nam lúc bấy giờ trong mối tương quan lực lượng giữa Pháp và Nhật, nhằm giúp cho nhân dân thấy rõ thời cơ thuận lợi cứu nước đã đến. Cuối cùng Hồ Chí Minh kêu gọi:

“Hỡi ai con cháu Rồng tiên !

Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau…

Người giúp sức kẻ giúp tiền

Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta…

Chúng ta có hội Việt Minh

Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh…”

(Nguyên bản, Lịch sử nước ta)

LỊCH SỬ NƯỚC TA (1)

 

Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam,

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.

Hồng Bàng là tổ nước ta.

Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.

Thiếu niên ta rất vẻ vang,

Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời,

Tuổi tuy chưa đến chín mười,

Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.

An Dương Vương thế Hùng Vương,

Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.

Nước Tàu cậy thế đông người,

Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.

Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,

Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?

Hai Bà Trưng có đại tài,

Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,

Ra tay khôi phục giang san,

Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.

Tỉnh Thanh Hoá có một bà,

Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,

Tài năng dũng cảm hơn người,

Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.

Phụ nữ ta chẳng tầm thường,

Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,

Kể gần sáu trăm năm giời,

Ta không đoàn kết bị người tính thôn(2*).

Anh hùng thay ông Lý Bôn,

Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,

Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.

Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.

Vì Lý Phật Tử ngu hèn,

Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.

Thương dân cực khổ xót xa,

Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,

Vì dân đoàn kết chưa sâu,

Cho nên thất bại trước sau mấy lần.

Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

Đến hồi Thập nhị sứ quân(3*),

Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.

Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,

Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.

Ra tài kiến thiết kinh dinh,

Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.

Lê Đại Hành nối lên ngôi.

Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.

Vì con bạo ngược hoành hành,

Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.

Công Uẩn là kẻ phi thường,

Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.

Mở mang văn hoá nước nhà,

Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.

Lý Thường Kiệt là hiền thần,

Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.

Tuổi già phỉ chí công danh,

Mà lòng yêu nước trung thành không phai,

Họ Lý truyền được chín đời,

Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.

Nhà Trần thống trị giang san,

Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,

Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:

Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,

Tung hoành chiếm nửa Âu châu,

Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,<sp

Leave a reply