TRIẾT LÝ QUÂN SỰ TRẦN QUỐC TUẤN

0
67

Trong chiến tranh giử nước của cha ông chúng ta đã xuất hiện nhiều triết lý độc đáo. Những tư tưởng duy vật đã hình thành. Lý Thường kiệt đã hình thành triết lý chủ động tấn công quân địch trên đất nước của chúng khi chúng chuẩn bị tiến công xâm lược nước ta.

Trần Quốc Tuấn là con An Sinh Dương Trần Liễu, thuở nhỏ Tướng mạo khác thường, lớn lên thông minh hơn người, xem khắp kinh sách, có tài văn võ. An Sinh Vương Trần Liễu tìm khắp người tài giỏi trong thiên hạ để dạy Quốc Tuấn. Ông đã tham gia ba cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên ( đặc biệt hai lần sau ông Tiết chế thống lĩnh các đạo quân) và được ghi công đầu trong sử vàng chói lọi của dân tộc.

Ông là một nhà yêu nước đã đặc nước lên trên nhà, có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước như Dã Tượng, Yết Kiêu. Phạm Ngủ Lão, Trương Hán Siêu… Ông có tưởng thân dân, dựa vào nhân dân giữ nước, làm cho mỗi người dân thành một chiến sĩ tham gia vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược. Muốn được như vậy phải thi hành chính sách khoan thư sức dân ( quan tâm đến sản xuất đời sống của dân). Đó là kế sâu rễ bền gốc là thượng sách để giữ nước.

Triết lý quân sự của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở chổ quân cần tinh ( chất lượng ) chứ không cần nhiều ( số lượng ) ( Quân quý tinh bất quý đa ). Tinh này phụ thuộc và sự đoàn kết, đồng lòng của quân sĩ. Theo ông có thu phục được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng được. Để thu phục các tướng sĩ, ông đưa ra chính sách nói rằng: các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng, đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. Ông chỉ ra sự gắn bó quyền lợi của các tướng sĩ với nhà Trần, để họ càng thêm tinh tưởng và hăng hái chiến đấu khi nói rằng ta cùng các ngươi bị bắt, đau sót biết nhường nào ! Chẳng những thái ấp của ta bị tước mà bổng lộc các ngươi cũng không còn; chẳng những gia quyến của ta bị tan mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông của ta bị dày xéo mà mồ mả cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên; chẳng những thân ta kiếp này bị nhục rồi đến trăm năm sau tiếng vơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Còn nếu như chiến thắng được kẻ thù thì chẳng những thái ấp của ta mãi mãi lưu truyền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời được hưởng; chẳng những gia quyến của ta được hưởng yên ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được bách niên giai lão; chẳng những tông mếu của ta được muôn đời tế lễ mà ông cha các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc trí, mà các ngươi trăm năm về sau tiếng thơm vẫn còn; chẳng những danh hiệu ta lưu truyền mãi mãi, mà họ tên các ngươi cũng sử sách lưu danh. Như vậy Trần Quốc Tuấn đã hiễu rõ sự thống nhất về quyền lợi là cơ sở thống nhất về ý chí, tinh thần giữa vua quan và tướng sĩ, tạo nên thế trận trên dưới một lòng, quyết tâm diệt giặc.

Ngoài ra, ông còn quan tâm đến yếu tố tinh thần, tâm lý trong quân đội. Chẳng hạn, trong cuộc kháng chiến chống quân nguyên lần thứ ba, Ông phân tích: địch ngại về đường xa, lại bị thất bại hai lần trước sẽ không có lòng chiến đấu nữa; còn ta đã quen đánh giặc, tất đánh tan được. Từ đó ông kêu gọi lòng căm thù giặc, quyết không đội trời chung với quân thù của các tướng sĩ. Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên mà không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay không mà chịu thu giặc. Ông phê phán kịch liệt những kẻ nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường, đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm.

Không chỉ xây dựng những tư tưởng đúng, tình cảm đẹp cho tướng sĩ, ông còn đã phá những tư tưởng cầu an hưỡng lạc ở họ, chẳng hạn lấy việc chọi gà làm thú vui đùa, quyến luyến vợ con, lo làm giàu mà quên việc nước, ham săn bắn mà quên việc binh, thích rượu ngon, mê hát… Ông luôn chăm lo xây dựng một đội quân thường trực tinh, mạnh với tinh thần cảnh giác chiến đấu cao, làm sao người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở Cửa Khuyết, làm rửa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai.

Kỷ luật trong quân ngũ nghiêm minh: đi đâu không được nhiểu dân, phải đồng lòng gắng sức đánh giặc, chớ thấy thua mà ngã lòng, chớ thấy được mà tự kiêu, phép nước không thân.

Triết lý quân sự của ông thể hiện trong tư tưởng cho rằng giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, lấy đoản chế trường là việc thường của binh pháp. Lấy đoản chế trường ở đây là lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn. Chẳng hạn trong cuộc kháng Nguyên lần thứ hai, ông chủ trương rúc lui nhằm bảo toàn lực lượng, làm vô hiệu hoá trường trận của địch, nhử chúng vào sâutrong thế trận (đoản) của ta, khi đó lực lượng của chúng mỏng, phân tán, ta tập kích bất ngờ tiêu diệt từng bộ phận quan trọng của địch, từ đó dần dần dẫn đến tiêu diệt hoàn toàn.

Theo ông, nếu thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dể chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tầm ăn, thì không cần thắng nhanh, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét huyền biến, như đánh cờ vậy, tuỳ thời tạo thế, nhưng đội quân phải một lòng như cha con. Như vậy trong binh pháp còn phải tuỳ cơ ứng biến. Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết. Ví du như vua Vũ Thành nhà Chu làm văn vũ sư ngắm ngầm sửa đức để lật đổ Nhà Thương mà dấy nghiệp Vương, không cần phải bày trận vậy. Vua Thuấn múa mộc và long trĩ mà họ Hữu Miêu tự phải đến Tôn Vũnước Ngô đem Mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở mạnh, phía bắt làm sợ nước Tần, nước Tấn, nổi tiếng với chư hầu, thế là người khéo bày trận không cần đánh vậy.

Như vậy, ông không lấy chiến tranh làm cứu cách, bất đắc dĩ mới phải kháng chiến. Dựa trên tư tưởng chính trị “lòng dân không chia, cả nước góp sức” ông đã tạo nên một thế trận toàn dân, chiến tranh nhân dân, đánh ở khắp nơi, mọi phía, kết hợp với quân chủ lực với đánh du kích của những đội dân binh ( Trần Thông, Nguyễn khả Lạp, Nguyễn Truyền ở miền xuôi; Hà Bổng, Hà Chương, Nguyễn Thế Lộc… ở miền núi). Đó là khí thế cả nước đón đánh giặc ( cử quốc nghênh địch), cả nước chống giặc ( cử quốc cự địch), trăm họ đều là quân lính.

Trần Quốc Tuấn là người đầu tiên tổng kết kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh giữ nước trong lịch sử, tiêu biểu là ba cuộc chiến tranh ở ba thời điểm khác nhau nhưng đều giành thắng lợi vẽ vang.

Thồi Đinh Lê sở vĩ thắng lợi trước quân xâm lược Tống bởi lẽ dùng được người hiền, do đó đất Phương Nam mạnh, còn phương Bắc thì mỏi mệt, suy yếu. Hơn nữa, nước ta khi đó có một thế mạnh rất căn bản là trên dưới đồng lòng, lòng dân không chia.

Thời Lý với cuộc chống Tống thắng lợi là do nhà lý mở nền, tức là nhà Lý đã hình thành nên một nền văn minh Đại Việt huy hoàng, rực rỡ trên tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, quốc phòng. Đó là điều kiện khách quan, nhưng để đi đến thắng lợi còn phải phụ thuộc vào sự năng động, tích cực chủ quan của con người, đặc biệt là vai trò của các tướng lĩnh, tiêu biểu là Lý Thường Kiệt. Như vậy, theo Trần Quốc Tuấn, việc dùng Lý Thường Kiệt là nhân tố thứ hai quyết định cuộc chống Tống thời lý thắng lợi.

Thời Trần với cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên thì nguyên nhân quan trọng nhất có tính chất quyết định thắng lợi là vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước góp sức.

Về tướng lĩnh, ông cho rằng tướng nào giấu điều gian, che tai hoạ, không nghĩ đến sự oán hận của mọi người, tướng ấy chỉ huy được 10 người; tướng nào thức khuya vậy sớm, nói năng kính đáo, tướng ấy chỉ huy được 100 người; tướng nào thẳng thắn, biết lo lắng, biết chiến đấu, tướng ấy chỉ huy được 1000 người; tướng nào bên ngoài thẳng thắn, bên trong hăn hái, biết đến sự khó nhọc của người khác, thương kẻ đói rét, tướng ấy chỉ huy được 10.000 người; tướng nào dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa để phục nước láng giềng, trên biết thiêng văn, dưới thông địa lý, giữa hiểu việc người, coi bốn bể một nhà, đó là tướng của toàn thiên hạ, không ai địch nổi; tướng mà coi quân sĩ như cỏ rác, thì quân sĩ coi tướng như cừu thù. Làm tướng phải tránh 8 điều: 1. Lòng tham không đái; 2. Giết người hiền; 3. Tin lời dèm pha, ưa lời phỉnh nịnh; 4. Biết người mà không biết mình; 5. Do dự không quyết đoán; 6. Hoang dâm tửu sắc; 7.Dối trá mà trong lòng thì nhát sợ; 8. Nói bậy mà không giữ lễ.

Những tư tưởng quân sự của Trần Quốc Tuấn đả phản ánh những quy luật cơ bản của cuộc chiến tranh giữ nước không chỉ ở thời Trần mà còn có ý nghĩa phổ biến cho mọi cuộc chiến tranh giử nước sau này ở nước ta.

Leave a reply