Lúc này, đồng chí Nguyễn Văn Thạnh, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy được Tỉnh ủy phân công về làm Bí thư Huyện ủy Giồng Riềng, đồng chí Nguyễn Văn Ngọ (Hai Ngọ) Thay làm Chánh Văn phòng Tỉnh ủy.
Đêm 29 – 1 – 1968, tại Bờ Dừa, xã Đông Yên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp mở rộng với các Tỉnh ủy viên ở gần, để nghe đồng chí Trần Quang Quít, Bí thư Tirh ủy thông báo mệnh lệnh và truyền đạt nghị quyết của Khu ủy về mở chiến dịch tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân. Khu ủy giao nhiệm vụ cho tỉnh Rạch Giá phải tự lực trong công kích – khởi nghĩa và phải đáp ứng cho khu về người và của khi cần thiết. Tỉnh ủy đã bàn, thống nhất phương án tấn công, xác định mục tiêu, quyết tâm và thành lập Ban Chỉ huy thống nhất mặt trận thị xã.
Trước giờ tổng tấn công, đồng chí Trần Quang Quýt, Bí thư Tỉnh ủy và một số cán bộ văn phòng Tỉnh ủy đi lên Tân Hiệp; chiều 30 Tết về đến Kinh 6, xã Thạnh Đông. Khi nổ ra tấn công, Thường trực Tỉnh ủy và thường trực các ban ngành, Văn phòng Tỉnh ủy lui về Thạnh Hưng, ở nhà Tư Hườn và xóm Hai Na (tháng 3 – 1968). Vào đợt 2 tổng tấn công (tháng 5 – 1968), Thường trực Tỉnh ủy và Văn phòng Tỉnh ủy chuyển về khu vực sông Cái Bé, xã Hòa Thuận. Tại đây, ngày 30 – 6 – 1968, cơ quan bị máy bay B 52 bỏ bom, trúng bộ phận giao thông công khai, ở Ngã Tư Hòa Thuận. Đồng chí Hai Già, cán bộ, hy sinh.
Tháng 7 – 1968, cơ quan Tỉnh ủy trở về căn cứ cũ, ở xã Vĩnh Bình Bắc, cặp theo quen sông Cái Lớn, từ Nhà Ngang, Xẻo Gia, Xẻo Cong, Kinh Trưởng Tòa. Đồng chí Trần Quang Quít, Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Lâm Kiên Trì, Phó Bí thư Tỉnh ủy và ngay sau nhà Mười Thương; ở đây có xây hầm tránh phi pháo kê ngay chỗ làm việc.
Cuối năm 1968 và những tháng đầu năm 1969, ở Rạch Giá, địch liên tục phản kích bằng nhiều chiến dịch, nhằm bình định, “nhổ có U Minh”. Mật độ bom đạn tăng cao chưa từng có, đánh phá ác liệt ngày đêm, tập trung vào vùng căn cứ của ta, nhất là 2 huyện An Biên và Vĩnh Thuận.
Đêm 16 – 4 – 1969, máy bay B57 (loại máy bay Mỹ chuyên ném bom vào ban đêm) ném bom trúng ngay cơ quan Tỉnh đội (đóng ở Bờ Dừa, xã Đông Yên, An Biên). Đồng chí Phan Thái Quý (Chín Quý) ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Tỉnh Đội Trưởng, đồng chí Nguyễn Tấn Minh (Mười Minh), Tỉnh ủy viên, Chính trị viên phó Tỉnh Đội cùng má Tư (Nguyễn Thị Oánh), quản lý cơ quan và chị Hồ Thị Chín, gia đình cán bộ, hy sinh…
Từ tháng 6 – 1969 đến cuối năm 1971, địch mở 3 cuộc hành quân quy mô cấp quân đoàn, thực hiện kế hoạch bình định, lấn chiếm U Minh Thượng, vừa đánh đường hành lang 1C chuyển quân, vũ khí từ Trung ương chi viện cho miền Tây Nam Bộ. Có thể nói đây cũng là một trong những thời kỳ khó khăn nhất của Đảng bộ và quân dân miền Tây Nam bộ nói chung và tỉnh Rạch Giá nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trước tình hình ngày càng khó khăn, ác liệt, khoảng tháng 7 – 1969 Tỉnh ủy quyết định dời cơ quan từ Xẻo Gia (Vĩnh Bình Bắc) về Ấp Khuân (xã Vĩnh Hòa), ven rừng U Minh Thượng. Các bộ phận điện đài, cơ yếu… ban đêm phải làm việc trong mùng vì nhiều muỗi. Lúc quá khó khăn, có những ngày không có gạo ăn, phải ăn cá, rau trừ cơm…
Trong khi toàn Đảng bộ đang tập trung sức đánh địch “nhổ có U Minh” thì tin Bác Hồ mất được lan truyền… Ngày 9 – 9 – 1969, tại Sân Gạch, xã Vĩnh Hòa, Tỉnh ủy chỉ đạo, tổ chức trọng thể lễ truy điệu Bác. Hàng ngàn cán bô, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân các vùng lân cận đã về dự lễ. Cuộc lễ diễn ra nghiêm trang, an toàn; mọi người xúc động, nghẹn ngào, lắng nghe từng câu, từng chữ Di chúc của Bác; tự nhủ sẽ biến đau thương này thành hành động cách mạng, quyết tâm tiêu diệt Mỹ – ngụy, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước theo lời Bác dặn…
Đêm 22 – 11 – 1969, máy bay B52 đánh bom trúng ngay Văn phòng Tỉnh ủy Ban Tổ chức Tỉnh ủy ở rừng Ấp Khân. 9 cán bộ, nhân viên hy sinh, trong đó có đồng chí Lê Văn Mính (Tám Màu),đồng chí Tư Lùn, bảo vệ đài, đồng chí Ba Thu, cán bộ Ban Tổ chức Tỉnh ủy… Toàn bộ tài liệu lưu trữ của Văn phòng Tỉnh ủy đều bị mất.
Sau trận bom B52 này, cơ quan Tỉnh ủy chuyển về Kinh Bà Điền, Chệt Ớt (xã Đông Hưng, huyện An Biên). Tại đây, tháng 12 – 1969, địch tiếp tục đánh vào; đồng chí Ba Triều, cán bộ nghiên cứu theo dõi số liệu và 2 chiến sĩ Đội phòng thủ hy sinh. Cơ quan Tỉnh ủy lại di dời về hướng biển An Biên. Đêm ra đi, một xuồng bị lạc, đụng địch phục kích ở Kinh Ông Lục ( xã Đông Thái); Hồng Thanh, nữ văn thư đánh máy hy sinh; mất một số dụng cụ in ấn…
Sau trận Kinh Ông Lục, cơ quan Tỉnh ủy tiếp tục di dời đến điểm mới, ở cặp ven rừng mắm Xẻo Quao (xã Đông Hòa, nay là xã Thuận Hòa) và Xẻo Đôi, Xẻo Vẹt (xã Đông Thái, nay là xã Nam Thái A).
Tháng 10 – 1970, Trung ương Cục miền Nam họp đánh giá tình hình, ra nghị quyết về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược hướng mạnh về cơ sở, bám địa bàn, xây dựng cơ sở và lực lượng, đánh địch bình định để giành đất, giành dân, tạo thế chiến lược mới; đồng thời tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng “chi bộ 4 tốt”.
Tháng 3 – 1971, tại căn cứ của Tỉnh ủy diễn ra một sự kiện lịch sử không thể nào quên: Khu ủy và Quân khu ủy có cuộc họp khẩn cấp để chỉ đạo giải quyết tình thế chiến trường… Cuộc họp chỉ yêu cầu vài tiếng đồng hồ; họp ngay địa điểm Thường trực Tỉnh ủy đang ở. Cuộc họp này có mặt đông đủ các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Khu. Nơi họp là 1 chòi nhỏ, dưới lùm cây mắm, cách biển vài trăm thước; ở vòng ngoài có bố trí lực lượng bảo vệ.
Tổ Mã thám của Tỉnh ủy theo dõi thì phát hiện địch đổ quân, chuẩn bị đánh ngay vào khu vực này bằng bộ binh và phi pháo. Đồng chí Phạm Văn Hớn (Mười Thành) Đội trưởng Đội phòng thủ được Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp giao nhiệm vụ bằng mọi cách phải bảo vệ cho được các đồng chí lãnh đạo Khu ủy. Sau đó đồng chí Mười Thành chọn 3 chiến sĩ cùng thực hiện nhiệm vụ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Đảng.
11 giờ trưa, quân của Trung đoàn 33 (Sư đoàn 21 ngụy) hung hăng lùng sục, càn vào. Đồng chí Mười Thành cùng đồng đội nổ súng dụ địch ra hướng khác để chúng không càn vào chỗ hội nghị. Đơn vị bắn rơi được 1 trực thăng… Địch đổ thêm quân. Các đồng chí chiến đấu dũng cảm và tất cả đều anh dũng hy sinh. Đến 13 giờ, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đến báo cáo với Khu ủy về việc 4 đồng chí đã hy sinh, bảo vệ an toàn cho hội nghị của Khu ủy… Ngay trong đêm, Văn phòng Tỉnh ủy cùng Đội phòng thủ tổ chức chôn cất các liệt sĩ và cấp tốc di dời cơ quan đến địa điểm khác.
Cơ quan Tỉnh ủy chuyển về rừng U Minh Thượng, đóng ở nhiều điểm. Cuối tháng 3 – 1971, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng, trong rừng Hậu Kinh Ba, Vĩnh Thuận, để tiếp thu Nghị quyết của TWC miền Nam về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, tháng 4 – 1971 tất cả các cơ quan, ban ngành của tỉnh, huyện đang ở trong rừng đều tìm cách ra bám dân, xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng; tích cực đánh địch bình định, giành đất, giành dân; nổ lực chuyển phong trào lên.
Tháng 4 – 1971, cơ quan Tỉnh ủy về ở Vườn Ông Cốc (ấp 6, xã Vĩnh Tuy); nơi đây vốn là căn cứ của Huyện ủy Gò Quao, nay chuyển lại cho Tỉnh ủy. Các cơ quan ban ngành tỉnh, huyện xây dựng được cơ sở, bám được dân, ra ở sát đồn địch, có cơ quan chỉ cách đồn địch vài trăm mét; đào hầm làm công sự vững chắc, gài mìn, chông lôi, kết hợp với du kích phát động phong trào nhân dân chiến tranh, làm binh vận, bao vây, tranh thủ trung lập đồn bót; được nhân dân đùm bọc, bảo vệ, giữ được bí mật, an toàn. Cơ quan Tỉnh ủy đóng cách đồn Kinh Xáng Cụt khoảng 3 km; ở đây từ năm 1971 đến giữa năm 1972.
( Nguồn: từ Tập sách Lược sử Căn cứ của Tỉnh ủy; do Ban Tuyên Giáo Tỉnh uỷ Kiên Giang biên sọn 2010)












