
Thiên nhiên và con người U Minh hòa quyện với nhau từ nhiều thế hệ, trong quá trình phát triển đã ghi dấu biết bao sự kiện đấu tranh hào hùng trên vùng đất Tây Nam của Tổ quốc. Trong đó U Minh Thượng thuộc tỉnh Rạch Giá nay là Kiên Giang nơi đã diễn ra nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do cho dân tộc. U Minh Thượng không chỉ là căn cứ cách mạng của tỉnh Rạch Giá mà còn là căn cứ quan trọng của Miền Tây Nam bộ và từng lúc là căn cứ của Nam Bộ. Đây là một trong những căn cứ cách mạng của cả nước.
Sự hình thành, tồn tại và phát triển của căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng có liên quan chặt chẽ với các tỉnh miền Tây Nam bộ. Mọi mặt hoạt động của khu căn cứ được sự chỉ đạo trực tiếp thường xuyên của Tỉnh ủy Rạch Giá và trực tiếp dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 9.
THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI U MINH:
Thiên nhiên:
Xưa kia rừng U Minh mịt mù bao phủ xuống tận mé biển, lên tận bờ Tây sông Hậu, ngày nay không còn được như trước, rừng bị thu hẹp lại không còn bao nhiêu và chia ra 2 vùng: U Minh Thượng và U Minh Hạ.
U Minh Thượng: Bắc, giáp sông Cái Lớn, Nam giáp sông Trèm Trẹm (ngọn sông Ông Đốc), phía Đông là kinh xáng Chắc Băng, phía tây giáp biển Vịnh Thái Lan, nằm trên địa bàn thuộc tỉnh Kiên Giang với diện tích tự nhiên 1.722 km2, bao gồm 4 huyện: An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng.
Xưa kia, đây là một vùng rừng có một quần cư động, thực vật phong phú mà hầu hết là rừng tràm xen kẽ những cây Mốp, mật cật, các loại thân thảo dây leo như Choại (loại cây mọc bò ở rừng tràm, dùng làm dây buộc đẻ lợp nhà, đan sậy, làm đó đặt cá. Đọt choại nấu canh ăn rất ngon), dớn, bòng bong… Môi trường đó rất thích nghi với các loài thú rừng, kể cả thú dữ và cá đồng sinh sôi nảy nở. Đặc biệt là ong mật và các loài chim quần tụ về đây nhiều vô kể. Khoảng đầu thế kỷ 18, nhân dân ta đã khai phá thành những cánh đồng lúa. Những con rạch tự nhiên và kinh đào chằng chịt nối liền nhau trở thành hệ thống giao thông đường thủy quan trọng ở vùng này.
Tên gọi U Minh có từ bao giờ? Phải chăng khi người Việt đến khai phá thấy nơi đây rừng cây âm u, vắng lặng, cây cối chen chúc nhau gần như che kín ánh mặt trời, mờ mờ mịt mịt mà gọi là cõi U Minh.
Theo “Gia Định Thành Thông Chí” của Trịnh Hoài Đức viết năm 1820 thì: “Huyện Kiên Giang thuộc trấn Hà Tiên gồm 2 tổng, trong đó tổng Thanh Giang gồm các làng: Vĩnh Thuận, Vĩnh Hòa, Thới An và làng Đông Yên bao quát cả một địa vực rộng mênh mông” (tức vùng U Minh Thượng). Địa danh cổ xưa ấy vẫn còn tồn tại đến nay.
Năm Minh Mạng thứ 11 (1832), Triều Nguyễn chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh, tỉnh Hà Tiên gồm 3 huyện: Hà Châu, Kiên Giang, Long Xuyên và 1 phủ là phủ An Biên có lúc đổi là phủ Khai Biên.
Năm 1900 thực dân Pháp chia Nam Kỳ ra thành 20 tỉnh, huyện Rạch Giá trở thành một tỉnh. Rạch Giá gồm có 4 quận: Châu Thành, Giồng Riềng, Long Mỹ, Phước Long. Vùng An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận bây giờ, khi ấy là Tổng Thanh Biên thuộc quận Phước Long. Sau đó tỉnh Rạch Giá tách ra thêm quận Gò Quao. Quận An Biên do Bùi Quang Đồn làm chủ quận đầu tiên gồm các xã: Vĩnh Hòa, Đông Yên, Đông Thái, Đông Hòa, Đông Thạnh, Đông Hưng, Vân Khánh Đông, Lại Sơn.
Năm 1948, chính quyền cách mạng đổi tên quận Phước Long thành huyện Hồng Dân.
Năm 1951 tỉnh Rạch Giá giải thể, huyện An Biên và huyện Hồng Dân nhập về tỉnh Bạc Liêu. Xã Đông Yên ở huyện Gò Quao được trả về huyện An Biên, có một thời gian xã Biển Bạch ở huyện Thới Bình được giao cho huyện An Biên thuộc tỉnh Bạc Liêu. Nhưng xã Vĩnh Hòa Hiệp lại tách ra cho huyện Châu Thành tỉnh Cần Thơ. Ngày 5 tháng 9 năm 1954, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ quyết định thành lập lại tỉnh Rạch Giá, phần lớn huyện Hồng Dân giao cho tỉnh Sóc Trăng. Các xã Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận, Vĩnh Bình giao cho huyện An Biên. Xã Biển Bạch lại trả về cho huyện Thới Bình.
Sau khi ta giao vùng tập kết 200 ngày (theo Hiệp định Giơ-ne-vơ) cho đối phương, ngày 2 tháng 3 năm 1955 chúng lập quận An Phước gồm 3 quận nhập lại: Phước Long, An Biên và Thới Bình.
Ngày 21 tháng 1 năm 1961 chúng bỏ quận An Phước, lập tỉnh Chương Thiện (là tên cha (Chương) và tên bà nội (Thiện) của Trần Lệ Xuân, Xuân là vợ Ngô Đình Nhu, em dâu Ngô Đình Diệm –Tổng thống NGỤY Sài Gòn) gồm 5 quận và một thị xã, trong đó có quận Kiên Long, quận ly đóng ở xã Vĩnh Phong (thuộc huyện Vĩnh Thuận ngày nay). Ở An Biên, Mỹ Diệm lập quận Kiên An đóng ở Xẻo Rô.
Ngày 8 tháng 4 năm 1962 chúng tách 4 xã của quận Kiến An lập quận Hiếu Lễ, đóng tại Thứ Mười Một (thuộc huyện An Minh ngày nay).
Bị ta đánh mạnh, địch ở quận Hiếu Lễ rút chạy, ngày 20 tháng 3 năm 1965 địch phải bãi bỏ quận Hiếu Lễ. Ngày 4 tháng 2 năm 1970 chúng tái chiếm, lập lại quận này.
Trong kháng chiến chống Mỹ, tháng 1 năm 1964, ta tách 4 xã: Vĩnh Hòa, Vĩnh Bình, Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận của huyện An Biên thành lập huyện Vĩnh Thuận, huyện ly ở xã Vĩnh Phong.
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1985 huyện An Biên lại được tách ra một số xã thành lập huyện An Minh, huyện ly đóng tại Thứ Mười Một (xã Đông Hưng).
U Minh Thượng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới. Hàng năm chia ra 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, thời tiết nắng khô, oi bức nhưng vào trong rừng vẫn thấy mát mẻ; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa rất lớn, nước mưa tràn đầy nhưng tiêu thoát nhanh ra biển do độ nghiêng của đất và do có kinh rạch chằng chịt, trừ một vài nơi bị úng do đất thấp trũng.
Rừng U Minh xưa, lông chim làm một nguồn lợi được khai thác và xuất khẩu rất đắt giá. Theo tài liệu điều tra của người Pháp năm 1873 cho biết nhiều sân chim trong vùng rừng tràm, người ta khai thác vào mùa chim đẻ trứng, mỗi đêm thu được trên 1.000 đến 2.000 bộ lông. Riêng trong đêm 16 tháng 3 năm 1873, tại sân chim Cái Nước thu 5.000 bộ lông chim và tại sân Chắc Băng (Đường Sân) liên tiếp thu trong 3 đêm trên 16.000 con chim bị giết để thu lông. Xác chim vứt thành gò đống, trôi nghẽn cả sông (!!!).
Hàng năm cứ vào tháng 3, rừng tràm U Minh trổ bông, bông tràm trắng, mềm với mùi thơm dịu thu hút những đàn ong gây mật. Nghề “ăn ong” (tức khai thác lấy mật và sáp ong) được người địa phương lập thành từng nhóm làm nghề. Sáp ong lấy từ bông tràm mới có màu trắng, dùng làm nến (bạch lạp). Mật và sáp được cung cấp cho nội địa và xuất khẩu.
Cá đồng U Minh cũng thật là dồi dào, nhiều đến nỗi mỗi lần có tiếng sấm bất thần, cá quậy lên tạo thành tiếng vang cả một khu vực. Cá dồn xuống đìa “ục như cơm sôi”. Do giao thông cách Nguyễn kéo dài truyền miên gây nhiều tang thương nên nhiều người Việt từ miền Bắc và miền Trung, nhấ là miền Trung đã lìa bỏ xứ sở đến vùng đất này để lánh nạn và kiếm sống). Họ phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt rừng thiêng, nước độc, muỗi mòng và thú dữ.
Cùng với công cuộc di dân cơ chế về sau (di cư tự nhiên và di cư cơ chế là hai thuật ngữ địa lý dân tộc và dân số học để phân biệt hai hiện tượng di dân khác nhau, di dân tự nhiên do các gia đình và cá nhân lẻ tẻ. Di dân cơ chế là những đợt di dân lơn bởi áp lực của các biến động xã hội với một lượng người đông đảo và tổ chức quy mô. Chỉ có di dân cơ chế mới làm thay đổi cảnh quan, địa thái và sinh thái nhân văn của vùng), người Việt đã lao động sáng tạo để từ rừng hoang xây dựng nên cơ đồ. Họ cư trú, lao động, sinh sống cùng với một số người Khmer, Hoa, Chăm cùng nhau gắn bó, đoàn kết và đấu tranh ngoan cường để bảo vệ thành quả do mình xây dựng.
Khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam (1859) thì vùng đất này đã có những nhóm dân cư ở rải rác, đến đầu thế kỷ 20 dân số U Minh Thượng mới thật sự phát triển, nhất là sau khi hoàn thành 2 con kinh Chắc Băng (1924) và Xẻo Rô (1932).
Do cư dân từ nhiều nơi đến nên một phần bị ảnh hưởng của những tôn giáo lớn. Một số người theo đạo Phật, một số theo đạo Thiên Chúa. Về sau có người theo đạo Cao Đài, Hòa Hảo. Số đông không theo tôn giáo nào mà chỉ thờ cúng tổ tiên.
( nguồn : theo kỷ yếu hội thảo khoa học, di tích lịch sử căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang năm 1997)












